|
Hà Nội --°C / --%
Thứ bảy, 27/06/2026 13:22

Cơ sở dữ liệu vùng trồng: Từ yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến quản trị ngành hàng nông nghiệp hiện đại

Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển đổi từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế và quản trị dựa trên dữ liệu số. Trong bối cảnh các rào cản kỹ thuật quốc tế ngày càng khắt khe, việc xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng (CSDLVT) không chỉ để nông sản vươn ra thế giới mà còn là nền tảng cốt lõi để nâng cao năng lực điều hành vĩ mô của Nhà nước.

Cơ sở dữ liệu vùng trồng: Từ yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến quản trị ngành hàng nông nghiệp hiện đại- Ảnh 1.
TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Cơ sở dữ liệu vùng trồng là yếu tố có ý nghĩa quyết định không chỉ để đáp ứng luật pháp quốc tế mà còn phục vụ công tác quản lý của chính Việt Nam trong nền kinh tế số - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Áp lực từ các định chế toàn cầu và "bài toán" sinh tồn

Trong xu hướng tiêu dùng hiện đại, truy xuất nguồn gốc (TXNG) không còn là khuyến khích mà đã trở thành quy định bắt buộc. Điển hình là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), dự kiến áp dụng từ cuối năm 2026, yêu cầu các mặt hàng chủ lực như cà phê, cao su, gỗ phải chứng minh nguồn gốc tới từng lô đất sản xuất.

TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách lâm nghiệp, Thương mại và Tài chính (Tổ chức Forest Trends), nhận định rằng TXNG là xu hướng tất yếu toàn cầu nhằm đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của nhà sản xuất và bảo vệ môi trường. Đối với Việt Nam, EUDR tác động mạnh nhất đến 3 ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD là cà phê, cao su và gỗ. Nếu không có dữ liệu vị trí địa lý chính xác, nông sản Việt có nguy cơ bị loại khỏi các thị trường cao cấp.

Đồng quan điểm, TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ NN&PTNT), khẳng định CSDLVT là yếu tố có ý nghĩa quyết định không chỉ để đáp ứng luật pháp quốc tế mà còn phục vụ công tác quản lý của chính Việt Nam trong nền kinh tế số.

Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là tình trạng dữ liệu nông nghiệp bị phân tán và thiếu tính cập nhật. Theo TS. Phạm Tuấn Anh, nguyên Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông (nay là Sở NN&MT tỉnh Lâm Đồng), Việt Nam thực tế không thiếu dữ liệu. Doanh nghiệp có dữ liệu vùng nguyên liệu liên kết; hợp tác xã nắm thông tin nông hộ; cơ quan quản lý có số liệu thống kê. Tuy nhiên, các nguồn này tồn tại rời rạc, không liên thông, khiến cơ quan quản lý khó đưa ra các quyết định chính xác dựa trên thực địa.

Bên cạnh đó, dữ liệu hiện nay thường mang tính "tĩnh", không theo kịp sự biến động nhanh chóng của nông thôn. TS. Phạm Tuấn Anh chỉ ra rằng cơ cấu cây trồng thay đổi liên tục theo thị trường nhưng hệ thống thống kê truyền thống lại có độ trễ lớn. Minh chứng cụ thể tại xã Nậm Lầu (Sơn La), diện tích cà phê thực tế qua ảnh viễn thám lên tới 5.400 ha, trong khi số liệu thống kê truyền thống chỉ ghi nhận 1.700 ha.

Phân định rõ "Mã số" và "Cơ sở dữ liệu"

Một vấn đề quan trọng được TS. Phạm Tuấn Anh nhấn mạnh là sự nhầm lẫn giữa "mã số vùng trồng" và "cơ sở dữ liệu vùng trồng". Mã số vùng trồng chỉ là công cụ kỹ thuật để phục vụ TXNG cho một thị trường cụ thể. Trong khi đó, CSDLVT là hạ tầng rộng lớn hơn, giúp nhận diện không gian sản xuất, kết nối các chủ thể và là nền tảng để chuyển đổi từ quản lý báo cáo giấy sang quản trị ngành hàng thực thụ.

Giá trị thực sự của CSDLVT, theo TS. Phạm Tuấn Anh, là giúp cơ quan quản lý trả lời được các câu hỏi thực tế như: "Nguồn cung ở đâu? Sản lượng bao nhiêu? Vùng nào cần điều tiết nước tưới ngay?". Khi dữ liệu trả lời được những điều này, nông nghiệp mới có thể chuyển mình sang hiện đại và minh bạch.

Trong bối cảnh nguồn lực tài chính hạn hẹp, việc xây dựng CSDLVT cần một phương thức tiếp cận thực tế hơn. TS. Tô Xuân Phúc đề xuất mô hình "từ dưới lên", lấy hệ thống cán bộ cơ sở và người dân làm trung tâm.

Muốn có sự vào cuộc của chính quyền cơ sở, UBND tỉnh cần chỉ đạo xuyên suốt xuống cấp xã. TS. Tô Xuân Phúc cho rằng cấp xã phải nhận thức việc thu thập dữ liệu nông hộ là một "nhiệm vụ chính trị" trọng tâm.

Huy động nội lực địa phương bằng cách thành lập các "Tổ công tác lưu động cấp xã" gồm cán bộ xã và trưởng thôn, bản. Đây là những người hiểu rõ nhất thực trạng đất đai, pháp lý của từng hộ dân tại bản mình.

Số hóa bằng công nghệ đơn giản, sử dụng các ứng dụng di động dễ thao tác để nông dân và cán bộ bản có thể đo đạc, cập nhật thông tin ngay tại vườn.

Thực tiễn tại tỉnh Điện Biên đã chứng minh tính khả thi của mô hình này. Ông Phạm Đình Lai, Chi cục trưởng Chi cục Nông nghiệp, Sở NN&MT tỉnh Điện Biên, chia sẻ địa phương đã lựa chọn cấp xã làm lực lượng nòng cốt. Kết quả bước đầu cho thấy người dân đã từng bước hiểu và tham gia tích cực vào quá trình xây dựng dữ liệu số.

Cơ sở dữ liệu vùng trồng: Từ yêu cầu truy xuất nguồn gốc đến quản trị ngành hàng nông nghiệp hiện đại- Ảnh 2.
TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách lâm nghiệp, Thương mại và Tài chính (Tổ chức Forest Trends): Truy xuất nguồn gốc là xu hướng tất yếu toàn cầu nhằm đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của nhà sản xuất và bảo vệ môi trường - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Hành lang pháp lý và An toàn thông tin

Một thách thức khác là sự chia sẻ dữ liệu từ khối tư nhân. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp sở hữu dữ liệu vùng nguyên liệu bền vững nhưng coi đó là tài sản riêng và không chia sẻ. Điều này dẫn đến rủi ro trùng lặp vùng nguyên liệu và chồng lấn giữa đất canh tác với đất lâm nghiệp.

TS. Tô Xuân Phúc đề xuất Nhà nước cần áp dụng cả quy định bắt buộc chia sẻ dữ liệu với nhóm sản phẩm rủi ro cao và khuyến khích doanh nghiệp tiên phong bằng các chính sách quảng bá, hỗ trợ kỹ thuật. Khi doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu, cơ quan quản lý sẽ tiết kiệm được nguồn lực, đồng thời doanh nghiệp cũng tránh được rủi ro vi phạm pháp luật về đất đai.

Về phương diện quản lý, TS. Hà Công Tuấn gợi ý cần phân loại dữ liệu theo ba mức độ: "màu xanh" (đáp ứng đầy đủ quy định), "màu vàng" (còn vướng mắc cần xử lý) và "màu đỏ" (rủi ro cao) để định vị và xử lý các vùng chồng lấn đất rừng một cách minh bạch.

Chính phủ đã sớm ban hành Nghị định 37/2026/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn của Bộ Công Thương, Bộ NN&MT về TXNG sản phẩm có mức độ rủi ro cao. Tuy nhiên, TS. Tô Xuân Phúc lưu ý rằng hệ thống thông tin phải đảm bảo an toàn tuyệt đối theo luật an ninh mạng, tránh rò rỉ dữ liệu cá nhân hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.

Xây dựng bộ dữ liệu vùng trồng "sống" và "sạch" không chỉ là yêu cầu cấp bách để đáp ứng EUDR hay các quy định quốc tế mà còn là lộ trình tất yếu để nông nghiệp Việt Nam thoát khỏi cảnh "mù mờ" về thông tin.

TS. Phạm Tuấn Anh đã khẳng định: "CSDLVT không đơn thuần là công cụ phục vụ truy xuất nguồn gốc. Giá trị lớn hơn của nó nằm ở khả năng giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người sản xuất cùng nhìn thấy rõ không gian sản xuất của ngành hàng". Với sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ và sự vào cuộc của chính quyền cơ sở, hạ tầng dữ liệu số sẽ trở thành "bệ phóng" đưa nông sản Việt Nam vươn tầm thế giới một cách bền vững và minh bạch.


Đỗ Hương  
Ký kết loạt thỏa thuận tại châu Âu, Hùng Nhơn khẳng định vị thế doanh nghiệp Việt
Xuất khẩu rau quả tăng tốc, Trung Quốc, Hoa Kỳ và EU là các nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng
Đưa thương mại nông sản Việt Nam - Trung Quốc lên tầm cao mới
Từ một mô hình đến thay đổi cách làm của nông dân
Nông nghiệp nâng giá trị sử dụng đất, hướng tới xuất khẩu 74 tỷ USD
Thúc đẩy chủ động cải tiến an toàn lao động: Điểm sáng trong ngành thủy sản
Xuất khẩu cà phê chế biến tăng, thúc đẩy giá trị ngành hàng
Tín dụng xanh – động lực thúc đẩy chuyển đổi nông nghiệp xanh bền vững trước tác động của biến đổi khí hậu
Khơi thông dòng vốn tín dụng: “Bệ đỡ” đưa kinh tế biển tỉnh Cà Mau vươn ra khơi lớn
“Cởi trói” xuất khẩu gạo: “Mở cửa” hay tạo thêm “kẽ hở”?
Tập đoàn De Heus thúc đẩy phát triển chăn nuôi công nghệ cao tại Việt Nam
Doanh nghiệp sầu riêng xoay trục trước áp lực dư cung
Xuất khẩu thủy sản, rau quả có thể tăng thêm 2 tỷ USD
Gỡ nút thắt cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo
Ngành phân bón Việt Nam đang đối mặt với nan đề về khả năng tự chủ
Xuất khẩu thủy sản sang Mỹ, EU: Điểm nghẽn từ thủ tục
Công nghệ mở “cú hích” mới cho thủy sản Việt
Thị trường dịch vụ ăn uống tại Việt Nam ngày càng sôi động, thu hút các nhà cung cấp châu Âu
“Luồng xanh” xuất khẩu mở cơ hội mới cho doanh nghiệp trái cây Việt
Xuất khẩu cà phê quý II/2026 chững lại do nguồn cung giảm
Xem thêm